Kỳ 1: Sa sút trí tuệ
Bệnh sa sút trí tuệ là một tình trạng suy giảm chức năng mắc phải tiến triển làm thương tổn đến hai trong các hoạt động tinh thần sau đây: ngôn ngữ, trí nhớ, thị lực, cảm xúc, nhân cách, nhận thức (tính toán, tư duy trừu tượng, đánh giá...). Đây là một trạng thái bệnh lý đáng ngại nhất của người cao tuổi.
Suy giảm trí tuệ có biểu hiện lâm sàng rõ ở người 65 tuổi trở lên với tỷ lệ 5-10%, trong đó người trên 80 tuổi chiếm khoảng 20% và 47% ở người trên 85 tuổi. Trong số sa sút trí tuệ tuổi già, bệnh Alzheimer chiếm 60-70%; nguyên nhân mạch máu hay còn gọi là sa sút trí tuệ do nhiều ổ nhồi máu não chiếm 15-20%, trong đó gồm: các thể có nhiều ổ ở vỏ não, bệnh não do xơ cứng động mạch vùng dưới vỏ não (bệnh Binswanger), nhồi máu hốc; những bệnh nhân vừa có bệnh Alzheimer vừa có nguyên nhân mạch máu chiếm 15-20%.
I. Biểu hiện lâm sàng
Triệu chứng sớm nhất của sa sút trí tuệ là giảm trí nhớ.
Có khá nhiều bệnh nhân sa sút trí tuệ bề ngoài vẫn có vẻ bình thường nên dễ bỏ sót bệnh. Nếu do nguyên nhân bệnh Alzheimer lúc đầu tiến triển chậm âm ỉ nhưng vẫn tuần tiến mà không thể đảo ngược được. Dấu hiệu lúc đầu chủ yếu là giảm sút nhận thức. Khi bệnh tiến triển nhanh có thể làm nghĩ đến các bệnh khác như hoang tưởng, trầm cảm, ngộ độc thuốc, tai biến mạch máu não. Những trường hợp sa sút trí tuệ do nhiều ổ nhồi máu thường hay gặp ở nam giới có tăng huyết áp, có hoặc không có cơn thiếu máu cục bộ, tiền sử tai biến mạch máu não. Tuy có một tỷ lệ bệnh nhân bị cả bệnh Alzheimer lẫn nhiều ổ nhồi máu não, bệnh sa sút trí tuệ do nhiều ổ nhồi máu não vẫn cần hết sức chú ý phát hiện vì có thể cải thiện được tình hình nhờ điều trị bằng các thuốc chống tăng huyết áp, aspirin, chống rung nhĩ, bỏ thuốc lá.
II. Chẩn đoán phân biệt
-
Bệnh sa sút trí tuệ cần phải chẩn đoán phân biệt với các bệnh:
hoang tưởng, do dùng thuốc, trầm cảm, suy giảm giác quan, bệnh chuyển hóa nội tiết, rối loạn bàng quang và ruột, suy dinh dưỡng, chấn thương, khối u, nhiễm khuẩn, tai biến tim mạch và mạch máu não.
-
Hoang tưởng là trạng thái lú lẫn có đặc điểm là mất sự chú ý, khởi phát nhanh, diễn biến giao động, tồn tại vài tháng nếu không được chữa trị.
-
Dùng thuốc quá liều có thể gây nên lú lẫn ở người cao tuổi.
Các thuốc cần chú ý gồm: thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc chống trầm cảm, chống tiết cholin, chống tăng huyết áp, thuốc chống viêm không steroid... Nếu một loại thuốc mà dùng lần nào cũng có biểu hiện lú lẫn thì nhiều khả năng thuốc đó là nguyên nhân gây bệnh.
-
Chuẩn đoán trầm cảm dựa vào biểu hiện một tâm trạng suy sụp kéo dài trong ít nhất hai tuần, có 2 trong 8 dấu hiệu thần kinh:
rối loạn giấc ngủ, mất hứng thú trong công việc, ý tưởng phạm tội, giảm sút nghị lực, giảm khả năng tập trung, chán ăn, kích thích hoặc suy giảm thần kinh vận động, ý tưởng tự vẫn
-
Các biểu hiện tâm thần khác
như lú lẫn có thể là hậu quả của trạng thái lo âu và mất phương hướng do nằm viện hoặc ở một chỗ lạ. Bệnh nhân bị trạng thái lo âu nặng, mất trí nhớ nặng và những cách xử sự bất thường có thể chẩn đoán nhầm là sa sút trí tuệ. Người mất ngủ kéo dài cũng có thể dẫn đến lú lẫn.
-
Suy giảm giác quan
như không nghe được, trả lời sai các câu hỏi nên dễ bị lầm tưởng là có sa sút trí tuệ.
-
Các bệnh về chuyển hóa nội tiết:
giảm natri máu; stress, giảm thể tích máu, chấn thương hoặc hội chứng tiết hormon lợi niệu không thích hợp (SIADH), tăng hay hạ đường huyết, rối loạn chức năng tuyến giáp, tăng chức năng cận giáp trạng... là những nguyên nhân gây lú lẫn chuyển hóa.
-
Chấn thương gây ra bọc máu dưới màng cứng dễ bị lú lẫn.
Khối u do tổn thương di căn và u thần kinh đệm có thể gây giảm sút tâm thần.
-
Nhiễm khuẩn cấp ở người cao tuổi có thể gây lú lẫn ngay cả khi không có sốt.
III. Điều trị bằng cách nào?
Điều trị sa sút trí tuệ ở người cao tuổi là phải tìm mọi cách phát hiện và xử trí các yếu tố dẫn đến suy giảm tâm thần. Những việc cần làm là: ngừng các thuốc không có chỉ định dùng, nhất là thuốc làm dịu, thuốc ngủ. Giải quyết các bệnh nội khoa và bệnh tâm thần như trầm cảm, suy dinh dưỡng, rối loạn tuyến giáp, nhiễm khuẩn. Điều trị các rối loạn chức năng. Loại bỏ các chướng ngại vật có thể gây tai nạn ở trong nhà. Gia đình giữ mối liên hệ chặt chẽ với thầy thuốc, thông báo những diễn biến bệnh, nhất là những diễn biến đột ngột.
Điều trị trầm cảm có thể dùng Methylphenidat thường có hiệu quả trong vòng vài ngày. Bệnh nhân trầm cảm có trì trệ tâm thần vận động có thể dùng deripramin, sertralin. Đối với loại kích động có thể dùng nortriptylin, trazodon. Hạn chế dùng amitriptylin vì các tác dụng phụ hạ huyết áp tư thế đứng. Sử dụng liệu pháp sốc điện khi các thuốc không có hiệu quả. Người ta thường phối hợp phương pháp này với điều trị bằng thuốc.
Kỳ 2: Rối loạn do bất động - mất thăng bằng
I. Tình trạng bất động
Nguyên nhân gây bất động là gì?
- Người cao tuổi bị bất động do những nguyên nhân chủ yếu sau đây: sức quá yếu, sa sút nghị lực, cứng khớp, đau nhức, trạng thái mất thăng bằng, rối loạn tâm thần vận động.
- Sức yếu thường do ít vận động; suy dinh dưỡng, rối loạn điện giải; thiếu máu; bệnh ở hệ thần kinh hoặc hệ vận động; bệnh Parkinson; viêm khớp dạng thấp và bệnh gút biến dạng; đau đa cơ thấp tức bệnh giả viêm khớp gốc chi, gây đau cứng vùng hông, vai và nhiều biểu hiện toàn thân; sử dụng thuốc gây hiện tượng cứng đờ các cơ; các bệnh gây đau xương như loãng xương, nhũn xương, di căn ung thư tại xương, chấn thương; các bệnh gây đau khớp như viêm xương khớp, viêm đa khớp dạng thấp, gút; viêm túi cơ, viêm cơ; cơn đau cách hồi; bệnh ở chân như hột cơm gan bàn chân, loét, chai phồng bàn chân, măng chai, móng chân mọc quặp vào trong hoặc mọc quá mức, đi giầy không vừa chân gây đau bàn chân. Trạng thái mất thăng bằng có thể do suy yếu toàn thân; bệnh ở hệ thần kinh như tai biến mạch máu não, mất phản xạ tư thế, bệnh thần kinh ngoại biên do đái tháo đường, nghiện rượu, suy dinh dưỡng, rối loạn tiền đình; lo âu; tụt huyết áp tư thế đứng hoặc sau khi ăn; tác dụng phụ của các thuốc: lợi tiểu, chống tăng huyết áp, an thần kinh, chống trầm cảm... đều có thể là nguyên nhân gây mất thăng bằng.
Điều trị các nguyên nhân gây bất động
- Tăng cường dinh dưỡng cho bệnh nhân quá yếu bằng chế độ ăn giàu chất đạm hay truyền đạm, hướng dẫn luyện tập khí công dưỡng sinh để cải thiện trạng thái thăng bằng và tâm thần vận động.
- Chú ý, quan trọng nhất trong chăm sóc bệnh nhân già là hết sức tránh để nằm bất động quá lâu. Nhưng nếu không thể tránh được thì phải có nhiều biện pháp để tránh loét và đảm bảo dinh dưỡng. Đối với hệ tim mạch, nên để bệnh nhân ở tư thế nửa nằm nửa ngồi, đầu cao, năng thay đổi tư thế nhiều lần trong ngày, tập cho cử động sớm, thụ động rồi chủ động ngay từ khi còn nằm trên giường. Khuyến khích bệnh nhân (có sự hỗ trợ ban đầu) tự thay đổi tư thế, tự di chuyển trong phòng, tự phục vụ trong công việc vệ sinh, tự mặc quần áo. Đối với bệnh nhân phải sử dụng xe lăn, không nên dùng các loại dây chằng dễ gây xây xát, loét. Có thể phải dùng một số thuốc như héparin liều thấp, hoặc đi bít tất ép, băng ép nhằm giảm nguy cơ huyết khối tắc mạch.
- Những bệnh viêm khớp ở người già, việc dùng thuốc chống viêm không steroid có thể làm giảm đau tại khớp nhưng lại có thể gây nên những tổn thương nguy hiểm ở dạ dày ruột như xuất huyết tiêu hóa, lú lẫn, hoang tưởng. Nên dùng aspirin có vỏ bọc có thể đỡ hại cho niêm mạc dạ dày, nhưng không nên dùng lâu dài có thể dẫn đến nhiễm salicylic; viêm xương khớp nên dùng acetaminophen có hiệu quả tốt.
II. Tình trạng mất thăng bằng dẫn tới ngã
Nguyên nhân gây ngã
Muốn giữ được cân bằng cơ thể, khả năng di chuyển được, đòi hỏi sự tham gia của nhiều cơ quan, phải có sự nhận biết bình thường, hệ thần kinh nguyên vẹn, hệ cơ xương khớp hoạt động nhịp nhàng, hệ tim mạch điều hòa đảm bảo tưới máu đáp ứng nhu cầu của cơ thể, khả năng thích ứng nhanh chóng với mọi tình huống. Khi tuổi càng cao, sự thăng bằng cũng giảm và tình trạng loạng choạng trở nên phổ biến, dẫn đến hay ngã, nhất là khi có hư tổn ở các bộ phận nói trên. Người cao tuổi dễ bị ngã khi: viêm phổi; nhồi máu cơ tim; mất khả năng ứng phó tức thì; suy yếu giác quan như mắt kém, tai kém, lú lẫn mất phương hướng, huyết áp dao động; say rượu; tác động của một số thuốc hạ huyết áp mạnh, thuốc an thần quá liều ...
Hậu quả do ngã
Ngã thường làm gãy xương ở cổ tay, cổ xương đùi, cột sống. Tỷ lệ tử vong do ngã ở người già khá cao, khoảng 20%. Đối với phụ nữ già có gãy xương vùng háng thì khả năng liền xương rất khó. Sau một lần ngã, người cao tuổi thường có tâm lý sợ bị ngã do mất tự tin, mất tính độc lập đã lâu luôn phải sống dựa vào người khác. Vì vậy cần phải có các nhà vật lý trị liệu huấn luyện một cách riêng biệt, có chú ý thích đáng đến tâm lý liệu pháp. Nhiều trường hợp bệnh nhân bị bọc máu dưới màng cứng do bị ngã va đầu xuống đất. Rối loạn nước và điện giải, loét do tỳ đè, giảm thân nhiệt dễ xảy ra làm tình trạng của bệnh nhân ngã bị nặng thêm.
Các biện pháp phòng ngã cho người cao tuổi
- Điều trị tích cực các bệnh viêm phổi, nhồi máu cơ tim, các bệnh gây kém mắt, kém tai, tăng hay giảm huyết áp... cho bệnh nhân cao tuổi để phòng tránh bị ngã. Có thể cho bệnh nhân đeo kính và dùng máy trợ thính để cải thiện thị lực và thính lực.
- Những yếu tố khách quan gây nên ngã như: đường sá mấp mô, nhà kém ánh sáng, nhiều đồ đạc trong phòng, sự xô đẩy...m đều có thể tránh được bằng việc thực hiện các biện pháp: mắc thêm đèn ở những chỗ tối, làm thêm lan can vịn tay ở những chỗ cần thiết; trong phòng ở, bỏ bớt bàn ghế và những thứ không cần thiết để việc đi lại được dễ dàng, dùng thảm đệm không trơn trượt trong sàn nhà, sàn phòng vệ sinh; tránh sử dụng ánh sáng quá chói. Bậc thang nên làm thấp, tay vịn chắc. Giường nằm phải vừa, không cao không thấp. Sử dụng giầy dép có đế vững chắc, không trơn trượt, tránh đi giầy, guốc cao gót.
Kỳ 3: Tiểu tiện không tự chủ
Rối loạn cơ tròn dẫn đến tiểu tiện không tự chủ do mất sự điều khiển đối với bàng quang. Đây là tình trạng bệnh lý ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của người cao tuổi. Tiểu tiện không tự chủ có thể là biểu hiện nhất thời hoặc kinh diễn, do nhiều nguyên nhân gây ra.
I. Nguyên nhân gây bệnh
Tiểu tiện tự chủ liên quan đến trạng thái tâm thần, hoạt động của thần kinh vận động, tình trạng đường tiểu tiện, sinh lý bàng quang. Có các nguyên nhân gây tiểu tiện không tự chủ nhất thời và trường diễn như sau:
Nguyên nhân gây tiểu tiện không tự chủ nhất thời
- Mê sảng là nguyên nhân hay gặp nhất của tiểu tiện không tự chủ ở bệnh nhân nằm viện. Khi hết mê sảng, bệnh nhân lại tiểu tiện bình thường. Trạng thái mê sảng làm cho bệnh nhân không nhận thức được nhu cầu tiểu tiện, không xác định được có phải là nơi tiểu tiện hay không. Trường hợp nhiễm khuẩn đường tiết niệu thì tiểu tiện không tự chủ biểu hiện là một triệu chứng. Đối với bệnh nhân viêm niệu đạo, viêm âm đạo teo, hay kết hợp giữa viêm teo âm đạo và viêm teo niệu đạo, tại tổn thương niêm mạc bị mòn, co giãn mao mạch, chấm xuất huyết, xung huyết, vết xước, ban đỏ. Viêm niệu đạo thường lan đến bàng quang gây tiểu tiện không tự chủ ở phụ nữ. Đái nhiều do các nguyên nhân như: dùng thuốc lợi tiểu, uống quá nhiều nước bởi quan niệm uống nhiều nước là tốt; rối loạn chuyển hóa (tăng đường huyết), tăng canxi huyết, đái tháo nhạt); suy tim, suy tĩnh mạch; hạ protid máu do suy dinh dưỡng, xơ gan... có thể vượt khả năng kìm chế đối với người già, không kịp đến nơi tiểu tiện.
- Hạn chế vận động, không đi lại được cũng gây tiểu tiện không tự chủ. Những trường hợp này cần phải dùng ghế có khoét lỗ để bô ở dưới để thuận tiện cho bệnh nhân. Bí đại tiện là một nguyên nhân phổ biến của tiểu tiện không tự chủ, nhất là đối với bệnh nhân nằm viện hoặc phải bất động. Một số thuốc, hội chứng trầm cảm và rối loạn tâm thần cũng có thể gây tiểu tiện không tự chủ.
Nguyên nhân gây tiểu tiện không tự chủ kinh diễn
- Bao gồm: hoạt động quá mức của cơ bức niệu làm cho sự co bóp của bàng quang không thể ức chế được, dẫn đến tiểu tiện không tự chủ, nước tiểu thoát ra ngoài. Đây là nguyên nhân chiếm trên 60% trường hợp tiểu tiện không tự chủ. Hoạt động quá mức của cơ bức niệu có thể do có sỏi bàng quang, khối u nên gây rối loạn ở tầng sinh môn, đái ra máu kèm theo tiểu tiện không tự chủ. Tiểu tiện không tự chủ do stress là nguyên nhân thứ hai hay gặp ở phụ nữ già nhiều hơn ở nam giới. Bệnh nhân thường thấy nước tiểu thoát ra ngay khi có stress. Tắc niệu đạo là nguyên nhân gây tiểu tiện không tự chủ kinh diễn hay gặp ở nam giới. Niệu đạo bị tắc do phì đại tuyến tiền liệt, u tuyến tiền liệt, co thắt niệu đạo, co thắt cổ bàng quang, ung thư tuyến tiền liệt. Biểu hiện là chảy nước tiểu nhỏ giọt không tự chủ sau khi đi tiểu tiện.
- Một nguyên nhân gây tiểu tiện không tự chủ nữa là hoạt động kém của cơ bức niệu do rối loạn thần kinh vận động vùng thấp hoặc vô căn.
II. Điều trị
- Đối với các nguyên nhân của tiểu tiện không tự chủ nhất thời, cần điều trị ngay và điều trị tận gốc. Những bệnh nhân bí đái do thuốc (chống trầm cảm, an thần) nếu bệnh lui dần, có thể ngưng dùng thuốc; dùng biện pháp tâm lý liệu pháp, điều trị các bệnh hay làm tăng kích động cho bệnh nhân như viêm khớp, viêm bao khớp...; bệnh nhân còn phải dùng thuốc thì thay bằng các thuốc không gây tiểu tiện không tự chủ.
- Đối với nguyên nhân gây tiểu tiện không tự chủ kinh diễn, cần điều trị sửa chữa tập tính, thói quen. Hướng dẫn bệnh nhân đi tiểu mỗi giờ hoặc 2 giờ một lần khi thức. Khi bệnh nhân đã có khả năng tự chủ được tiểu tiện, nên nâng dần khoảng cách mỗi lần 30 phút, theo một trình tự phù hợp cho đến khi khoảng cách hai lần đi tiểu đạt từ 4-5 giờ. Hầu hết bệnh nhân nếu tập luyện thành công, có thể dần dần tự chủ được tiểu tiện ban ngày và cuối cùng cũng tự chủ được cả ban đêm.
- Đối với bệnh nhân khó hợp tác thì người chăm sóc cần hỏi khi nào họ cần đi tiểu, từ đó nắm được nhu cầu và chủ động yêu cầu bệnh nhân đi tiểu trước khi xảy ra tiểu tiện không tự chủ. Khi bệnh nhân phải dùng thuốc thì cần tránh dùng các thuốc có tác dụng làm cho bệnh nhân bị đái nhiều. Bệnh nhân tiểu tiện không tự chủ do stress, cách điều trị có hiệu quả nhất là dùng phẫu thuật. Biện pháp phẫu thuật còn dùng để giải phóng chỗ bị tắc nghẽn niệu đạo có hiệu quả nhất, đặc biệt là khi có bí đái. Đối với bệnh nhân mà bàng quang co bóp quá yếu có thể áp dụng các biện pháp làm tăng số lần đi tiểu hoặc ấn bóp vùng trên xương mu. Khi cần nên tháo rỗng bàng quang, nhất là đối với bệnh nhân mất khả năng co bóp bàng quang thì phải thông đái ngắt quãng hay để xông tại chỗ. Kháng sinh phải dùng khi có nhiễm khuẩn đường tiết niệu trên hoặc khi cần đề phòng nhiễm khuẩn tại chỗ ở những bệnh nhân phải thông đái nhiều lần.
Bác sĩ Minh Phát - 360 Tổng Hợp